Sau khi chính quyền Pháp bị Nhật lật đổ, các đồn bốt của Pháp nằm rải rác ở các vùng Trung du và Thượng du Bắc Kỳ đã chuẩn bị rút lui. Người Pháp hối hả bỏ chạy. Ở một số nơi, chúng thu dọn hành lý vào lúc nửa đêm ngay khi nhận được lệnh. Dù vậy, chúng không quên sát hại các tù nhân chính trị bị giam ở Cao Bằng.
Quân giải phóng phát động tấn công
Thực hiện quyết định mới, các đại đội Giải phóng quân ở Cao Bằng đã tấn công chiếm các đồn bốt hoặc trại biệt lập. Các chiến sĩ của ta tiến vào đồn Sóc Giang dưới sự cổ vũ nhiệt tình của lính đồn trú.
Một đại đội Giải phóng quân khác nhận lệnh tiến quân từ Cao Bằng về Thất Khê, rồi vòng lại Phố Bình Gia, Đình Cả với mục tiêu chính là tỉnh lỵ Thái Nguyên. Một đại đội khác nhận nhiệm vụ đến Bảo Lạc và Hà Giang.
Chúng tôi đã sống nhiều năm trong rừng sâu hoặc trên núi thẳm. Mỗi lần xuống làng, chúng tôi đều phải tuân thủ nhiều mệnh lệnh: cấm đi lại giữa ban ngày, cấm đi giày, cấm dùng gậy trên các đường mòn trên núi (vì dấu vết có thể để lại trên đất), cấm nghỉ đêm trong làng.
Hôm nay, các đơn vị chính quy của ta tiến về đồng bằng trong tiếng reo hò của dân chúng, khi lá cờ đỏ sao vàng tung bay kiêu hãnh trên các cổng làng. Bức tranh ấy khiến trống ngực đập rộn ràng: đất nước đã về lại tay ta. Không khí dường như nhẹ nhõm hơn, bầu trời cao xanh hơn, núi non, thác nước và làng mạc tươi đẹp hơn. Chúng tôi hít thật sâu làn hương độc lập đầu tiên của nước Việt Nam giải phóng.
Lúc chúng tôi đến Chợ Rã, cờ đỏ sao vàng đã tung bay trên các nóc nhà trong khi đó dân chúng đang sốt ruột chờ chúng tôi tới và sẵn sàng chuẩn bị lương thực dồi dào để thết đãi quân đội.
Đến cuối tháng 3, quân giải phóng Việt Bắc tiến vào Chợ Chu và gặp gỡ đội cứu quốc quân Bắc Sơn.
Hoạt động của Đội Cứu quốc quân
Trong lúc Pháp tràn vào Tuyên Quang, đội Cứu quốc quân Bắc Sơn bước vào giai đoạn hoạt động ráo riết theo quyết định của Uỷ ban Hành chính quân sự Thái Nguyên - Tuyên Quang dưới sự chỉ đạo của đồng chí Chu Văn Tấn. Quân số đội này tăng nhanh và chiếm được phần lớn vũ khí do máy bay Đồng minh thả xuống cho quân Pháp (đặc biệt là súng máy hạng nhẹ).
Ngày 15 tháng 3, đồng chí Chu Văn Tấn ra lệnh bao vây Hùng Sơn và cuộc tác chiến thắng lợi hoàn toàn. Tiếp đến, cuộc phản công Văn Lãng đã khiến nhiều sĩ quan Nhật thiệt mạng. Toàn bộ lính người Việt thì gia nhập các hàng ngũ của ta.
Cũng trong tháng 3, đội Cứu quốc quân liên tiếp chiếm Chợ Chu, Chiêm Hóa, để tiến về Tam Đảo, Vĩnh Yên, Phú Thọ. Chính quyền cách mạng được thành lập ở khắp nơi.
Như vậy, chưa đầy ba tháng, chính quyền nhân dân được thành lập ở tất cả các huyện của tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và ở một số huyện của tỉnh Hà Giang, Lạng Sơn.
Các Ủy ban nhân dân sau khi được thành lập đã xác định rõ đường lối cơ bản trong chính sách của Việt Minh:
1 - Bãi bỏ sưu thuế, phu dịch.
2 - Thi hành phổ thông đầu phiếu và ban bố quyền tự do dân chủ
3 - Mở rộng cuộc chiến chống nạn mù chữ.
Chính quyền đế quốc bị lật đổ. Con dấu, bằng cấp, giấy chứng thực, sổ sách… được bàn giao cho chính quyền mới. Tại nhiều cuộc mít tinh, dân chúng đốt thẻ thuế thân tại chỗ... Cuộc đấu tranh kháng Nhật diễn ra sôi nổi: cấm làm việc cho Nhật, dẫn đường cho Nhật, đi lính cho Nhật. Cấp trên ra lệnh cắt đường dây điện báo, phá cầu, phá hủy đường giao thông, áp dụng nghiêm ngặt chiến thuật "vườn không, nhà trống" dọc các trục đường chính. Tại Nà Phặc (Bắc Cạn), sau ba ngày nỗ lực tìm kiếm, người Nhật chỉ tìm được một lao động duy nhất để sửa chữa đường. Trong khi đó, ở Chợ Chu, một lúc ta cũng có thể tập hợp được vài trăm người phá đường. Người dân Quảng Nạp đề nghị phóng hỏa toàn thị trấn để quân Nhật không còn chỗ ở. Các chàng trai dân tộc Mán trắng ở Tĩnh Túc cũng tham gia một số trận chiến chống Nhật.
Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ
Nửa cuối tháng 4/1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập đại biểu các chiến khu miền Bắc, và phía Bắc miền Trung Việt tham dự Hội nghị Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ.
Sau khi phân tích tình hình, các đại biểu đi đến kết luận: cần mở rộng chiến tranh du kích và chuẩn bị khởi nghĩa. Theo đó, đất nước phải được chia thành bảy chiến khu. Cần phải biến Việt Bắc thành căn cứ địa kháng Nhật để mở rộng chiến tranh du kích, cần giúp các vùng khác xây dựng căn cứ quân sự vững chắc, hợp nhất các đơn vị giải phóng quân và cứu quốc quân, thành lập Tổng chỉ huy quân đội Bắc Kỳ.
Vấn đề trang bị và vũ khí cũng tìm được giải pháp thỏa đáng. Cũng trong hội nghị này, ta đã quyết định gộp các tỉnh vùng trung du vào căn cứ địa Việt Bắc và chuyển thành một khu ngoại tuyến làm lá chắn cho căn cứ địa. Nhiệm vụ đưa lực lượng vũ trang vào Nam thu hút sự chú ý đặc biệt của tất cả các đại biểu: một phân đội tinh nhuệ phải nhanh chóng lên đường vào phía Nam.
Về mặt chính trị, Hội nghị quân sự cách mạng đề ra những nhiệm vụ sau: đoàn kết toàn dân, lôi kéo giới trí thức và tiểu tư sản vào phong trào cứu quốc, vận động và hô hào quần chúng tham gia biểu tình vũ trang ở những nơi du kích còn kém phát triển. Hội nghị đặt ra nhiệm vụ chủ yếu là chuẩn bị Quốc dân Đại hội từ đó thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Khu Giải phóng chính thức được thành lập
Ngày 04 tháng 6, trong cuộc hội kiến với các đồng chí lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị sửa đổi một số điểm của Nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng, chủ yếu là hợp nhất hai chiến khu ở Việt Bắc và thành lập căn cứ địa duy nhất cho cuộc đấu tranh kháng Nhật bao gồm Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái. Đặt tên căn cứ này là Khu giải phóng, một hình thức kêu gọi đấu tranh tới khắp cả nước. Như vậy, Khu giải phóng chính thức được thành lập. Việc chỉ đạo quân sự và hành chính của Khu giải phóng được giao cho Ủy ban chỉ huy lâm thời gồm năm thành viên.
Ủy ban chỉ huy lập kế hoạch ngắn hạn nhằm củng cố căn cứ yểm trợ trong thời gian ba tháng:
1. Về mặt chính trị: kiện toàn tổ chức Việt Minh, tổ chức công tác tuyên truyền, huấn luyện tư tưởng ở từng huyện, bầu lại các Ủy ban nhân dân.
2. Về mặt quân sự: hợp nhất tất cả các đơn vị chiến đấu thành lập giải phóng quân, đồng bộ tổ chức và củng cố công tác huấn luyện, mỗi làng có một đội du kích; giải quyết phối hợp vấn đề quân sự với chính trị.
3. Về kinh tế, tài chính: cải thiện đời sống của nhân dân, tăng gia sản xuất, tổ chức hợp tác xã, tích trữ lương thực cho quân đội, sản xuất vũ khí, phát hành trái phiếu quốc gia và chuẩn bị phát hành tiền giấy.
4. Về mặt văn hóa: đấu tranh chống nạn mù chữ, mở các trường học cứu quốc trong từng làng, xuất bản báo chí ở từng vùng, huyện, khu, đặt nhà in.
5. Về mặt truyền thông: lập bưu điện, trạm điện báo vô tuyến và mua ngựa.
6. Về cán bộ: mở các trường huấn luyện quân sự, chính trị cho cuộc chiến chống Nhật, mở các trường đào tạo cán bộ, quân sự ở mỗi huyện.
Khu giải phóng đẩy lùi mọi tấn công do Nhật phát động
Từ nửa cuối tháng 3, quân Nhật đã xâm nhập vào các huyện của Khu giải phóng. Lúc đầu, Nhật bằng lòng với việc cử các đội tuần tra đến từng khu vực. Các đơn vị biệt lập này thường xuyên bị quân ta đánh chặn. Chúng bị đánh úp trên đường từ Thái Nguyên đến Tuyên Quang, quân Nhật chết và bị thương nhiều. Những trận chiến ác liệt nhất diễn ra ở Chợ Chu, dọc theo đường từ Thái Nguyên đến Bắc Cạn, bên bờ sông Chảy và vùng phụ cận tỉnh lỵ Tuyên Quang.
Sau những cuộc xâm nhập riêng lẻ không có kết quả, Nhật một mặt kêu gọi “các anh em Việt Minh” hợp tác với chúng, mặt khác chúng cho máy bay rải truyền đơn chống phá Việt Minh, đồng thời tích cực chuẩn bị một cuộc tấn công quy mô lớn. Vào khoảng giữa tháng 5, Nhật tập trung lực lượng rút quân khỏi Thái Nguyên, Cao Bằng, sau đó đột nhập vào căn cứ của ta theo ba hướng khác nhau: Phấn Mễ - Đồn Đu - Chợ Chu, Bắc Cạn - Chợ Đồn, Vĩnh Yên - Thiện Kế - Sơn Dương. Trong quá trình tiến quân, quân Nhật rơi vào các ổ phục kích của ta ở khắp mọi nơi và bị tổn thất nặng nề.
Vào thời điểm đó, một số đồng chí cho rằng tốt nhất là bỏ qua quân Nhật, không đánh Nhật, hy vọng chúng để ta yên; nên đặt các vấn đề chính trị lên trên các vấn đề quân sự. Kinh nghiệm cho thấy quan điểm đó chỉ đúng ở thời kỳ chiến tranh du kích chưa phát triển, còn trong thời buổi chiến tranh du kích ngày càng mở rộng như lúc này thì hoàn toàn sai lầm: quan điểm này chỉ khiến chúng ta mất đi tính chủ động tác chiến. Từ đó, Ủy ban chỉ huy lâm thời đã ra chỉ thị đấu tranh trên cả hai phương diện quân sự và chính trị.
Quân đội ta nhận lệnh tấn công dữ dội nhằm vào quân Nhật đóng ở Thái Nguyên và Bắc Cạn. Ở Bắc Cạn, quân Nhật bị bao vây trong thị xã; các căn cứ du kích nằm cách thị xã nửa ki-lô-mét và thường xuyên đánh phá nơi này. 5 đêm liên tiếp, Chợ Chu bị quân ta bao vây quấy rối; do thiếu lương thực, Nhật phải lui dần về Thái Nguyên. Đình Cả cũng bị tấn công, trận chiến đẫm máu tiếp đó đã thắng lợi, địch bị quân ta đuổi theo đến La Hiên. Đồng thời Ủy ban chỉ huy lập kế hoạch mở rộng Khu giải phóng: bên phía Lạng Sơn tấn công Phố Bình Gia; bên phía Bắc Giang tấn công Yên Thế, đồn Mẹt, Trị Cụ; bên phía Vĩnh Yên chiếm đồn Tam Đảo, giải cứu một số người Pháp bị Nhật bắt giam; phía Tuyên Quang tấn công Yên Bình, Lục An Châu bao vây thị xã.
Khu giải phóng ngày một mở rộng. Sức mạnh chính trị và quân sự của chúng ta đang đà phát triển. Quan hệ của ta với các nước Đồng minh ngày càng chặt chẽ. Ở Trung Quốc, giới chính trị quan tâm đến phong trào Việt Minh. Dư luận Mỹ cho chúng ta thấy sự đồng cảm lớn.
Quốc dân Đại hội Tân Trào
Sau khi đối mặt với mọi hiểm nguy và vượt qua mọi trở ngại, các đại biểu dần dần đổ về Tân Trào, thủ đô của Khu giải phóng. Họ là đại diện của mọi tầng lớp xã hội ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, đại diện người Việt Nam định cư ở Thái Lan và Lào. Đó là một đại hội mang tầm cỡ chưa từng có trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Khai mạc Đại hội được ấn định vào ngày 16 tháng 8 vì phải đợi các đại biểu từ xa đến. Tuy nhiên ngày 13 tháng 8, Khu giải phóng được tin Nhật sắp đầu hàng qua trạm điện báo vô tuyến. Khoảng mười một giờ đêm cùng ngày, Ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng ra lệnh khởi nghĩa, các đơn vị tác chiến phải tập trung lực lượng để tấn công các trung tâm đô thị lớn.
Sáng ngày 15, sau khi nhận được tin chính thức Nhật đầu hàng, Ủy ban khởi nghĩa được thành lập.
Tối ngày 16, giải phóng quân rời thủ phủ Khu giải phóng tiến về đồng bằng.
Các đơn vị đóng quân dọc các trục đường vào đồng bằng nhận lệnh tập kết tại các điểm nhất định và sẵn sàng nhập đoàn tiến về phía Nam. Khi đến Thái Nguyên, quân số của ta đã khá đông. Ngày 19 tháng 8, vào khoảng nửa đêm, từ một địa phương gần Thái Nguyên, các phân đội nhận lệnh lên đường tiến vào tỉnh lỵ, đánh chiếm các đồn của quân Bảo An và tấn công các đồn trú Nhật. Đồng thời, các toán đóng ở vùng lân cận Tuyên Quang nhận lệnh hành quân về Phú Thọ, Sơn Tây và tiến về phía Hà Đông.
Cùng với các cuộc hành quân, khởi nghĩa bùng nổ trên phạm vi toàn lãnh thổ của ta. Tại thủ đô Hà Nội, quyền lực rơi vào tay nhân dân. Tiếp đó là đến các thành phố Huế, Sài Gòn và các tỉnh miền Trung, Nam, Bắc Việt Nam. Lá cờ đỏ sao vàng giờ đã tung bay trên khắp mọi miền đất nước. Từ một Khu giải phóng, chúng ta đã giải phóng Việt Nam hoàn toàn và Ủy ban Dân tộc Giải phóng trở thành Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 29, giải phóng quân chính xác hơn là trung đoàn 4 tiến về Hà Nội.
-
Dịch từ bài viết “Création de la Zone libre” của tác giả Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đăng trong cuốn “Le Vietnam en marche” số 10, tháng 8 năm 1957 bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.