Truyền dịch là gì? Chỉ định, kỹ thuật, theo dõi và tai biến khi truyền

Truyền dịch là gì? Chỉ định, kỹ thuật, theo dõi và tai biến khi truyền

Truyền dịch tĩnh mạch là một phương pháp điều trị khá phổ biến và hiệu quả ở các bệnh viện, phòng khám hay ở chính ngôi nhà của bạn dưới sự thực hiện của một nhân viên y tế. Tuy nhiên ngoài những lợi ích mang lại, việc truyền dịch phải tuân thủ đúng chỉ định, kỹ thuật, phải được theo dõi sát để tránh những tai biến nguy hiểm.

Đọc thêm

1. Truyền dịch tĩnh mạch là gì?

Truyền dung dịch vào tĩnh mạch là đưa vào cơ thể bệnh nhân qua đường tĩnh mạch một khối lượng lớn dung dịch và thuốc.Truyền dịch tĩnh mạch là qui trình kỹ thuật điều dưỡng thường được thực hành trong điều trị, chăm sóc bệnh nhân. Hiệu quả chăm sóc điều trị cao do thuốc được đưa nhanh vào cơ thể. Những điều này cũng hay có những tai biến, biến chứng.

Đọc thêm

2. Quy định chung của truyền dịch

Dịch truyền và các loại dụng cụ phải tuyệt đối vô khuẩn.Khi thực hành kỹ thuật phải đúng quy định và đảm bảo tuyệt đối vô khuẩn. Kể cả trong ý thức và ở từng động tác kỹ thuật trong suốt quá trình tiêm.Tuyệt đối không để không khí lọt vào tĩnh mạch.Đảm bảo áp lực của dịch truyền cao hơn áp lực máu tĩnh mạch của bệnh nhân.Tốc độ chảy của dịch theo đúng y lệnh. Duy trì tổng lượng dịch đưa vào đúng thời gian quy định.Theo dõi chặt chẽ tình trạng bệnh nhân trước trong và sau khi truyền dịch.Phát hiện sớm các phản ứng và xử trí kịp thời.Không để lưu kim quá 24 giờ trong cùng một vị trí.Nơi tiếp xúc giữa kim và mặt da phải giữ vô khuẩn tuyệt đối.

Đọc thêm

3. Chỉ định và chống chỉ định truyền dịch tĩnh mạch

Đọc thêm

3.1 Chỉ định truyền dịch tĩnh mạch

Hồi phục lại khối lượng tuần hoàn đã mất của cơ thể: trong các trường hợp ỉa chảy mất nước, bỏng nặng, mất máu, xuất huyết…Đưa thuốc vào cơ thể: khi muốn cho thuốc ngấm đều và duy trì nhiều giờ hoặc nhiều ngày một lượng thuốc hằng định trong máu.Nuôi dưỡng bệnh nhân: khi bệnh nhân không ăn uống được: bệnh nhân hôn mê, tổn thương thực quản, đường tiêu hóa.Các mục đích khác: giải độc, lợi tiểu trong trường hợp bệnh nhân bị ngộ độc.

Đọc thêm

3.2 Chống chỉ định truyền dịch tĩnh mạch

Bệnh nhân phù phổi cấpBệnh nhân suy tim nặng.Bệnh nhân tăng huyết áp nặng.Truyền dịch có thể gây tai biến suy tim cấp, phù phổi cấp, tăng huyết áp.Nếu có chỉ định đặc biệt, cần duy trì một lượng dịch hằng định trong máu, thì phải truyền thật chậm, khối lượng ít, theo dõi sát, tốt nhất là đo áp lực tĩnh mạch trung tâm.

Đọc thêm

4. Các loại dung dịch thường dùng để truyền dịch tĩnh mạch

Đọc thêm

4.1 Dung dịch đẳng trương

Dung dịch natri clorua 9/1000.Dung dịch glucose 5%.Dung dịch ringer lactat.Dung dịch natri hydrocarbonat 140/00. (NaHCO3)Các dung dịch đẳng trương đều truyền nhỏ giọt được vào tĩnh mạch.Liều lượng truyền: từ 100 - 2000ml/24h hoặc hơn, tuỳ theo tình trạng bệnh lý của bệnh nhân.

Đọc thêm

4.2 Dung dịch ưu trương

Dung dịch natri clorua 10%, 20%.Dung dịch glucose 10%; 20%; 30% ; 50%.Dung dịch natri bicarbonat 5%.Những dung dịch ưu trương chỉ được tiêm truyền vào tĩnh mạch. Tuyệt đối không được tiêm dưới da hay bắp thịt vì gây hoại tử tổ chức.

Đọc thêm

4.3 Dung dịch có phân tử lượng lớn

Dextran.Huyết tương, máu.

Đọc thêm

4.4 Dung dịch nuôi dưỡng

Các loại dung dịch đạm (axít amin) như: Kabiven, Nutrisol, Morihepauim, Aminosteril nhepa….

Đọc thêm

5. Kỹ thuật truyền dịch tĩnh mạch

Đọc thêm

5.1 Chuẩn bị địa điểm

Nơi truyền dịch cho bệnh nhân phải sạch sẽ, thoáng khí, đủ ánh sáng cần thiết. Phải đảm bảo điều kiện vô khuẩn tốt.Có thể thực hành ngay trên giường bệnh nhân, trên bàn mổ, trong phòng cấp cứu hồi sức, phòng lưu bệnh nhân.

Đọc thêm

5.2 Chuẩn bị dụng cụ, dung dịch

Đọc thêm

Dụng cụ vô khuẩn

Chai dịch truyền theo chỉ định đã được kiểm tra, tên loại dung dịch, số lượng, hàm lượng, chất lượng, ngày pha chế và thời hạn dùng.Thuốc theo y lệnh.Khay vô khuẩn để đựng bơm, kim tiêm, gạc, dây truyền.Kìm Kocher vô khuẩn có mấu, không mấu để gắp bơm, k...

Đọc thêm

Các dụng cụ khác

Cọc truyền, giá treo, quang treo để treo chai dung dịch cách giường bệnh nhân 0,8 - 1m.Keo, băng dính, băng cuộn, để cố định kim và chi của bệnh nhân.Bộ gối kê tay, tấm nilon nhỏ để lót dưới vùng truyền dịch, dây cao su để garo chi cho tĩnh mạch nổi rõ, nẹp có độn bông để cố định tay bệnh nhân.Huyết áp, ống nghe, đồng hồ bấm giây.Phiếu truyền dịch, bảng theo dõi dấu hiệu sinh tồn.Hộp thuốc, chống sốc.Khay quả đậu, túi giấy: đựng bông gạc bẩn.

Đọc thêm

5.3 Chuẩn bị bệnh nhân

Giải thích để bệnh nhân và người nhà bệnh nhân biết việc sắp làm và báo cho họ biết thời gian truyền bao lâu sẽ xong để họ yên tâm.Nhắc bệnh nhân đi đại, tiểu tiện trước khi truyền.Lấy các dấu hiệu sinh tồn trước khi truyền: mạch, huyết áp, nhiệt độ, nhịp thở.Đặt bệnh nhân ở tư thể thoải mái.

Đọc thêm

5.4 Vị trí tiêm truyền

Đọc thêm

Trẻ em

Truyền cho trẻ em thường vào tĩnh mạch đầu, mu bàn tay, cẳng tay, mắt cá trong cẳng chân.

Đọc thêm

Người lớn

Truyền cho người lớn thường vào tĩnh mạch nếu gấp khuỷu tay, cẳng tay hoặc tĩnh mạch mắt cá trong của bàn chân.Nếu truyền vào tĩnh mạch chữ V ở nếp gấp cẳng tay phải xắn ống tay áo lên sát vai hoặc cởi hẳn ống tay áo. Đặt cánh tay lên nẹp và cố định bằng băng cuộn vào thành giường để tránh di lệch.Truyền vào tĩnh mạch mắt cá trong của bàn chân: kéo quần lên quá gối, không cần nẹp, chỉ cố định đầu gối và cổ chân bằng băng cuốn vào thành giường.Bệnh nhân hôn mê, giãy giụa: phải cố định chân tay vào thành giường.

Đọc thêm

5.5 Thực hành kỹ thuật

Đọc thêm

Giai đoạn trước cắm kim

Kiểm tra lại công tác chuẩn bị: địa điểm, dụng cụ, bệnh nhân, chai dung dịch. Thực hiên 3 kiểm tra, 5 đối chiếu, 5 đúng.Điều dưỡng rửa tay sạch bằng xà phòng, sau đó sát khuẩn tay bằng cồn, đi găng tay.Sát khuẩn nút chai; pha thuốc vào chai, nếu có chỉ...

Đọc thêm

Truyền dịch tĩnh mạch bằng kim luồn

Truyền dịch tĩnh mạch bằng kim luồn cớ ưu điểm: không bị chệch kim ra khỏi tĩnh mạch. Bệnh nhân có thể cử động tay truyền dịch. Đặc biệt thuận tiện trong vận chuyển bệnh nhân, cấp cứu bệnh nhân hàng loạt.Kim luồn là một ống polyten mềm, mỏng, có độ dài...

Đọc thêm

Trường hợp mạch nhỏ, xẹp, khó truyền

Trường hợp mạch nhỏ phải dùng bơm tiêm lấy 5 - 10ml dung dịch huyết thanh mặn đẳng trương lắp kim và cầm bơm tiêm, chọc vào tĩnh mạch. Khi máu vào bơm tiêm tháo dây garo, đổi tay bơm thuốc vào tĩnh mạch.Khi hết thuốc: tay trái dùng ngón nhẫn đè lên mũi vát của kim để máu không theo kim chảy ra và khí không lọt vào tĩnh mạch.Ngón trỏ và ngón cái giữ đốc kim thật chặt.Tay phải nhẹ nhàng xoáy và tháo bơm tiêm bỏ vào khay quả đậu đựng nước lạnh.Lắp đầu ambu của dây truyền vào đốc kim.Mở khoá cho dịch chảy.

Đọc thêm

Giai đoạn sau cắm kim

Dùng gạc tam giác lót dưới đốc kim. Bọc đốc kim lại và cố định băng dính vào da bệnh nhân.Điều chỉnh khóa cho dịch chảy nhỏ giọt theo y lệnh. Dùng đồng hồ bấm giây để theo dõi tốc độ nhỏ giọt trong 1 phút.Rút gối kê tay, nilon, dây garo ở dưới tay hoặc ...

Đọc thêm

6. Theo dõi truyền dịch tĩnh mạch

Trong 15 phút đầu phải đứng tại chỗ quan sát sắc mặt, mạch, huyết áp, nhịp thở của bệnh nhân và vùng tiêm. Nếu có những biến đổi khác thường phải báo cáo bác sĩ.Quan sát lưu thông dịch.Nếu không có diễn biến bất thường, điều dưỡng có thể đi làm việc ...

Đọc thêm

7. Tai biến xảy ra khi truyền dịch

Đọc thêm

7.1 Dịch không chảy

Dịch không chảy ra, thuốc không vào được cơ thể bệnh nhân có thể gây nguy hiểm cho tính mạng bệnh nhân. Đặc biệt là trong những trường hợp cấp cứu, bệnh nhân nặng. Những nguyên nhân dẫn đến dịch không chảy bao gồm:- Do kim bị lệch, lỗ kim áp sát vào thành mạch. Cần điều chỉnh lại kim và kê lại đốc kim.- Do mạch xẹp: dùng bàn tay vuốt nhẹ theo đường về của tĩnh mạch để dồn máu.- Do tắc kim: tạm thời gập 1 - 2 khúc của đoạn dây truyền rồi buông tay nhanh dung dịch sẽ dồn mạnh xuống làm thông kim. Nếu không được phải thay kim khác và truyền lại.

Đọc thêm

7.2 Phồng nơi tiêm

Phồng nơi tiêm do thuốc thoát ra ngoài vì kim tiêm ra ngoài thành mạch hoặc kim chưa vào sâu trong lòng mạch, do tĩnh mạch bị vỡ. Phải truyền lại, hoặc truyền chỗ khác. Dung dịch ưu trương thoát ra ngoài thì phải ngừng truyền ngay, báo cho bác sĩ.- Triệu chứng: chỗ truyền phồng to, bệnh nhân kêu đau buốt.- Xử trí: rút ra truyền lại.

Đọc thêm

7.3 Bệnh nhân bị sốc

Sốc có thể do dịch, do những yếu tố gây sốc của dây truyền, hoặc do tốc độ truyền quá nhanh.- Triệu chứng: bệnh nhân đang truyền thấy khó thở, rét run, vã mồ hôi, sắc mặt tái nhợt, mạch nhanh, huyết áp tụt (huyết áp tâm thu ≤ 80mmHg).- Xử trí: ngừng truyền, ủ ấm cho bệnh nhân. Báo cáo ngay và cùng bác sĩ, chuẩn bị thuốc xử trí: thuốc trợ tim mạch, kháng histamin và tìm nguyên nhân gây sốc.

Đọc thêm

7.4 Phù phổi cấp

Phù phổi cấp là tai biến nặng do truyền nhanh khối lượng lớn dịch truyền hoặc truyền với tốc độ nhanh ở bệnh nhân cao huyết áp, suy tim.- Triệu chứng: bệnh nhân đau ngực dữ dội, khạc bọt màu hồng, sắc mặt tím tái. Nghe thấy phổi nhiều ran ẩm dâng lên từ hai đáy phổi.- Xử trí: Ngừng truyền ngay. Cùng với bác sĩ chuẩn bị phương tiện cấp cứu. Garo tứ chi 5 phút/lần, dùng lợi tiểu, trích máu nếu cần thiết. Xử trí tình trạng suy tim, suy hô hấp, trụy tim mạch.

Đọc thêm

7.5 Tắc mạch phổi

Tắc mạch phổi do không khí trong dây truyền lọt vào lòng mạch.- Triệu chứng: bệnh nhân đau ngực đột ngột, dữ dội, khó thở, có thể gây tử vong nhanh.- Xử trí: ngừng truyền ngay, báo cáo bác sĩ, đồng thời xử trí hô hấp nhân tạo, thở oxy.

Đọc thêm

7.6 Nhiễm khuẩn

Do vô khuẩn không tốt, có thể gây nhiễm khuẩn huyết, viêm gan virus, nhiễm HIV.Đề phòng: phải đảm bảo tuyệt đối nguyên tắc vô khuẩn trong suốt quá trình tiêm truyền.Bác sĩ Nguyễn Văn Luân

Đọc thêm

Bạn đã thích câu chuyện này ?

Hãy chia sẻ bằng cách nhấn vào nút bên trên

Truy cập trang web của chúng tôi và xem tất cả các bài viết khác!

CLTM