Vai trò của địa chất đô thị trong phát triển mô hình “Đô thị có khả năng phục hồi”

1. Đặtvấn đề

Các thành phố trên thế giới nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng là một hệ thống tự nhiên và xã hội hết sức phức tạp với sự tồn tại giao thoa của các yếu tố môi trường nền tự nhiên, nhân sinh và kinh tế - xã hội.

Trong những đô thị quy mô lớn với dân số đông, mật độ sống cao và có nhiều công trình hạ tầng quan trọng thì song song với sự phát triển bình thường là tính dễ bị tổn thương cao, luôn phải đối mặt với các tác động tiêu cực, khả năng gây khủng hoảng, tác động to lớn tới toàn bộ hệ thống tự nhiên - xã hội và con người. Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa, đặc biệt là trong những khu vực có nguy cơ tai biến cao thì mức độ tổn thương càng lớn và do đó mức độ tác động tới cộng đồng và xã hội càng cao.

Vì vậy, trong bối cảnh phát triển toàn cầu, khái niệm và các tiêu chuẩn cho một “thành phố có khả năng phục hồi” (resillent city) đang trở thành mô hình phát triển mới được toàn thế giới theo đuổi, đặc biệt là châu Âu - nơi đang hướng tới một xã hội có khả năng phục hồi cao hơn (Benczur và nnk., 2017).

Một thành phố có khả năng phục hồi là nơi có khả năng duy trì chức năng và các hoạt động trong bất cứ thảm họa hay áp lực nào, trong khi bảo vệ và nâng cao được cuộc sống của người dân (Manca và nnk., 2017).

Để có thể đáp ứng yêu cầu của sự phát triển tương lai này và đem lại sự phát triển bền vững, việc quy hoạch thành phố phải hướng đến mục tiêu có khả năng phục hồi cao, trong đó các điều kiện nền tự nhiên luôn là yếu tố mang tính chất tiền đề và quyết định (Huggenberger và Epting, 2011; ESCAP, 2002).

Trong danh sách 17 mục tiêu Phát triển bền vững đến năm 2030 của Liên hợp quốc (UN, 2015) có mục tiêu “Thành phố bền vững” với các tiêu chí rõ ràng gồm: phát triển bền vững, quy hoạch đô thị có trách nhiệm, bảo vệ được các tài nguyên và di sản thiên nhiên, bảo đảm sự linh hoạt và có khả năng phục hồi trước những tai biến địa chất được xem là những đối tượng mang tính chìa khóa cho các thập kỷ tới.

Thực tế đã chứng minh, hiểu rõ bản chất của nền địa chất, tài nguyên và các tai biến địa chất tiềm năng là chìa khóa cho lập quy hoạch phát triển đô thị một cách bền vững (Huggenberger và Epting, 2011).

Các thông tin địa chất và địa kỹ thuật dưới mặt đất có tầm quan trọng và giá trị kinh tế - xã hội to lớn cho sự phát triển của thành phố và bảo đảm an toàn cho toàn bộ hệ thống hạ tầng cơ sở, môi trường (như các hệ thống giao thông và công trình ngầm, năng luợng, hệ thống cấp thoát nước và nền móng công trình).

Bên cạnh đó, điều kiện nền địa chất còn là nguyên nhân khởi phát và thúc đẩy nhiều tai biến tự nhiên và nhân sinh (sụt lún, động đất, trượt đất…) được kích hoạt bởi các tác động của con người (như ô nhiễm nguồn nước, sụt lún bề mặt, trượt lở…).

Để đạt được mục tiêu của một thành phố phát triển bền vững, các điều kiện nền tự nhiên bao gồm cấu trúc nền địa chất, các nguồn tài nguyên, và các rủi ro tiềm tàng do tai biến địa chất gây ra phải được hiểu rõ, cân nhắc cẩn thận và đưa vào quy hoạch sử dụng, quản lý một cách tổng hợp như là một phần không thể tách rời của các chương trình và kế hoạch phát triển đô thị trên mặt đất.

Với tầm nhìn này, trong tương lai, quy mô Hà Nội sẽ phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng, chiều cao và chiều sâu. Không gian ngầm sẽ dần đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong sự tiến hóa của thành phố, không chỉ ở không gian, mà còn liên quan đến các tài nguyên khác như: nước ngầm, nhiệt và địa chất công trình.

Với một Hà Nội đang liên tục mở rộng, dân số tăng nhanh tạo nên một sức ép lớn trong phát triển hạ tầng, tạo sức ép lớn và ngày càng tăng lên sức chịu tải của hệ thống tự nhiên, cân bằng về môi trường và nhu cầu cho một môi trường sống bền vững và thích ứng linh hoạt, thì việc am hiểu về địa chất đô thị, bao gồm cấu tạo nền địa chất, điều kiện địa chất thủy văn, địa chất công trình, địa hóa học, năng lượng địa nhiệt, tai biến địa chất và di sản địa chất là một yêu cầu mang tính tự thân và tất yếu.

Như vậy, để tránh các tác động tiêu cực, quy hoạch thành phố phù hợp và có trách nhiệm là yêu cầu bắt buộc để giảm thiểu các rủi ro về môi trường và tác động kinh tế gây ra bởi các tác động tai biến tự nhiên và kỹ thuật. Khoa học địa chất và am hiểu các vấn đề địa chất đô thị đóng vai trò chìa khóa để đạt được các mục tiêu trên với việc cung cấp các thông tin và hiểu biết cần thiết cho tất cả các bên liên quan tới quy hoạch và sử dụng không gian thành phố.

Để có một quy hoạch thành phố có khả năng thích ứng tốt với các thách thức tương lai và phát triển bền vững, Hà Nội cần phát triển các chính sách và mục tiêu hợp lý hướng tới mục tiêu quản ly bền vững không gian, giảm thiểu các rủi ro tai biến, giảm thiểu các tác động tiêu cực và hậu quả của các thảm họa tự nhiên và nhân sinh.

Để góp phần làm sáng tỏ các yêu cầu trên và cung cấp thêm thông tin về nền địa chất, làm cơ sở nêu các luận cứ và đáp ứng các yêu cầu trong Quy hoạch Thủ đô Hà Nội Nội thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, bài viết này trình bày một số nét khái quát về đặc điểm cấu trúc nền địa chất, tài nguyên địa chất và những kiểu tai biến địa chất tiềm năng có tác động mạnh mẽ tới các yếu tố kinh tế kỹ thuật trong việc quy hoạch thành phố cần được xem xét cũng như đề xuất một số khuyến nghị khi lập quy hoạch Thủ đô tính tới các tác động nói trên.

2. Mộtsố đặc điểm của nền địa chất, tài nguyên và vai trò của chúng đối với Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Theo “Đề cuơng Định hướng Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, quan điểm về lập quy hoạch Thủ đô có một số điểm nhấn mạnh gồm: “… bảo đảm tính tổng thể đồng bộ giữa các ngành, phát triển hài hòa giữa các địa phương, vùng lãnh thổ…”, “Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế nhanh, bền vững với phát triển văn hóa, con người; bảo đảm quốc phòng, anh ninh, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ môi trường sinh thái thích ứng biến đổi khí hậu, phân bổ khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn các di tích lịch sử - văn hóa, di sản văn hóa của Thủ đô nghìn năm văn hiến”; và “Phát triển Thủ đô gắn liền với liên kết phát triển bền vững, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với một số lĩnh vực quan trọng: về quy hoạch, phát triển kết cấu hạ tầng, bảo vệ môi trường, phát triển du lịch, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực và chăm sóc sức khỏe nhân dân”.

Xuất phát từ những quan điểm này, có thể thấy rằng, hàng loạt vấn đề liên quan đến nền địa chất, tài nguyên địa chất và tai biến địa chất tiềm năng cần được tính toán, xem xét cẩn thận và đưa vào như là các thành tố quan trọng trong Quy hoạch tổng thể phát triển Thủ đô. Một số yếu tố địa chất quan trọng cần được xem xét và đưa vào như là một cơ sở dữ liệu mang tính cốt lõi trong việc lập quy hoạch và các kế hoạch phát triển được đề cập dưới đây.

2.1. Nền địa chất và sự phân bố của các thành tạo địa chất

Kết quả của các nghiên cứu địa chất đến thời điểm này (Nguyễn Đức Đại, 1996; Trần Văn Trị và Vũ Khúc, 2009) cho thấy, Thủ đô Hà Nội nằm trên một nền địa chất đa dạng và phức tạp, trải qua các vận động địa chất từ hàng tỷ năm trước và đang tiếp diễn, tạo nên nguồn tài nguyên địa chất phong phú và đa dạng, nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều tai biến địa chất tiềm ẩn, đe dọa tới sự phát triển và an toàn của thành phố và con người.

Theo kết quả điều tra địa chất hiện có, trên địa bàn thành phố có các thành tạo địa chất thành phần đa dạng gồm các đá trầm tích, magma, biến chất được hình thành trong một quá trình địa chất lâu dài, trong đó có các đá cổ nhất có tuổi tới hơn 2 tỷ năm và nhiều thành tạo địa chất khác được thành tạo từ đó đến nay. Các đá có sự phân bố không gian phức tạp, trải qua quá trình vận động địa chất liên tục, lâu dài làm cho chúng bị biến dạng mạnh mẽ và quan hệ giữa chúng trở nên hết sức phức tạp.

Ở phần phía Tây, Tây Bắc và phía Bắc, các đá gốc lộ ra ở mức độ khác nhau, trong khi đó, phần trung tâm và phần Đông, Đông Nam thành phố, các thành tạo này bị bào mòn và phủ trên là các thành tạo địa chất trẻ, bở rời.

Bên cạnh các thành tạo đá gốc có đặc tính rắn chắc và bền vững, nhiều khu vực trong thành phố được cấu tạo bởi các tầng đá carbonat, trong đó phát triển rộng rãi các hệ thống hang ngầm ở các độ sâu khác nhau, tạo nên nguy cơ cao về sụt lún ngầm. Đặc biệt, các thành tạo này bị bao phủ bởi các lớp phủ trầm tích trẻ, bở rời với độ dày khác nhau làm cho việc nhận dạng và khoanh nối chúng trên mặt đất không thực hiện được.

Do lịch sử biến dạng lâu dài và phức tạp trong quá trình tiến hóa địa chất mà các thành tạo địa chất trong khu vực bị dập vỡ, biến dạng hết sức mạnh mẽ và phức tạp. Dạng nằm và vị trí nguyên thủy của các đá bị phá vỡ, nhiều hệ thống dập vỡ và đứt gãy phát triển mạnh mẽ làm dịch chuyển các đá ở những khoảng cách lớn.

Vùng trung tâm của Thủ đô nằm trên các hệ thống đứt gãy có quy mô lớn, hình thành và phát triển do các vận động kiến tạo khu vực lâu dài như: đứt gãy sông Hồng, sông Chảy, sông Lô với phương phát triển Tây Bắc - Đông Nam và nhiều đứt gãy khác là phân nhánh của chúng. Lịch sử vận động phức tạp và đa kỳ của chúng đã tạo nên địa hào Hà Nội dẫn tới sự sụt lún của nền đá gốc và lấp đầy của các trầm tích trẻ trong các thung lũng địa hào.

Sự định hướng của sông Đà, sông Hồng, sông Chảy và các sông khác cũng như hình thái địa hình ngày nay chủ yếu được khống chế bởi phương hướng và bản chất vận động của các đứt gãy cũng như các dịch chuyển kiến tạo khác.

Đặc biệt, các hệ thống đứt gãy này hiện vẫn đang hoạt động, có nguy cơ tạo ra các tai biến địa chất ở các mức độ khác nhau. Sự phát triển của Đồng bằng sông Hồng, đi cùng là sự hoạt động và đổi dòng liên tục của dòng sông và các nhánh của nó do sự nâng cao và hạ thấp nền địa hình, dâng cao và hạ thấp mực nước biển trong vài triệu năm gần đây đã tạo ra các lớp trầm tích trẻ tuổi Đệ Tứ phủ trên bề mặt các đá gốc với sự thay đổi phức tạp về thành phần, kết cấu của tầng phủ và tạo nên một nền địa chất yếu, tiềm ẩn rủi ro khi các công trình xây dựng, hạ tầng cơ sở và khu đô thị được đặt hầu hết trên tầng địa chất yếu này.

Trong khi đó, các điều tra địa chất hiện nay chỉ dừng ở quy mô khu vực, thiếu nhiều dữ liệu chi tiết để xác định được đặc tính địa phương và sự phân dị về kết cấu và tính dễ bị tổn thương của chúng.

Với các yếu tố địa chất như tóm tắt ở trên, việc am hiểu chi tiết về đặc tính của nền địa chất có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những các dữ liệu địa chất, địa kỹ thuật quan trọng để làm cơ sở đưa ra các giải pháp kỹ thuật phù hợp phục vụ việc khai thác hợp lý và bảo vệ các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó sự cố là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững của thành phố.

Trong quy hoạch đô thị, việc nắm được thông tin chi tiết về nền địa chất và các hiện tượng địa chất liên quan là cơ sở quan trọng để có giải pháp đúng đắn trong giải quyết các thách thức tương lai như: biến đổi khí hậu, sự mở rộng quy mô thành phố và nhu cầu về tài nguyên.

Trong trường hợp này, nhận thức về nền địa chất và các thành tố của nó là chìa khóa trong việc quy hoạch để giảm thiểu các xung đột, giảm thiểu rủi ro và giảm thiểu giá thành trong việc xử lý các vấn đề dưới mặt đất (như nhận dạng các yếu tố quyết định tới độ ổn định của nền đất, đặc tính của nước ngầm, ổn định sườn dốc, khả năng chứa các tai biến tiềm ẩn như: trượt đất, động đất, lũ lụt, tác động của nước biển dâng…).

2.2. Tài nguyên địa chất

Tài nguyên địa chất là một nhu cầu tự thân cho sự phát triển của bất cứ quốc gia và vùng lãnh thổ nào bởi nó là nguồn cung không thể thiếu cho đầu vào của bất cứ chuỗi sản xuất và nền kinh tế nào.

Mặc dù sự phát triển vũ bão của khoa học công nghệ và xu thế phát triển của một nền kinh tế xanh và tuần hoàn trong bối cảnh của Cách mạng công nghiệp 4.0 với khoa học công nghệ và tái chế ngày càng phát triển thì nhu cầu của tài nguyên địa chất không giảm đi, mà ngược lại, càng gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là đối với các nguồn tài nguyên chiến lược.

Kết quả nghiên cứu cho thấy hiện Hà Nội có nguồn tài nguyên địa chất khá phong phú, bao gồm các nhóm chính sau:

a) Về khoáng sản

Trên địa bàn thành phố có khá nhiều loại khoáng sản, tập trung thành các tụ khoáng của các loại khoáng sản nhiên liệu (than), kim loại (sắt, đồng, vàng), khoáng chất công nghiệp (pyrit, than bùn, kaolin, assbet, đá vôi xi măng, puzlan, bột màu…), vật liệu xây dựng (đá basalt, đá vôi, sét, đá ong), nước khoáng và một số tài nguyên khác.

Kết quả điều tra địa chất hiện nay đã nhận dạng được gần 100 mỏ và điểm khoáng hóa trên địa bàn thành phố (ch., Nguyễn Đức Đại, 1996; Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 2005 và các nguồn khác). Ngoài than bùn, vàng sa khoáng và sét nằm trong các thành tạo địa chất trẻ và bở rời, hầu hết các loại khoáng sản nói trên tập trung trong các thành tạo địa chất cổ lộ ra ở vùng phía Tây và Tây Bắc.

Một số loại hình có ý nghĩa quan trọng, đã và đang được khai thác mạnh là khoáng chất công nghiệp (pyrit, đá vôi xi măng), vật liệu xây dựng (đá basalt, đá vôi, sét, đá ong), nước khoáng để phục vụ nhu cầu đang gia tăng nhanh chóng.

Tuy nhiên, do nhu cầu về nguồn nguyên liệu đang gia tăng nhanh chóng, hoạt động khai thác khoáng sản hiện nay đã bộc lộ nhiều bất cập; rất nhiều hoạt động khai thác không được kiểm soát, gây ô nhiễm môi trường, lãng phí tài nguyên và xâm hại hệ sinh thái, các di tích văn hóa, lịch sử khác, đặc biệt là các khu vực và vị trí có tiềm năng là di sản địa chất. Khai thác khoáng sản không được kiểm soát còn góp phần tạo ra nhiều tai biến địa chất như: trượt lở, thoát thải các độc tố, kim loại nặng vào nguồn nước trên mặt và nước ngầm ở cùng hạ lưu.

b) Về tài nguyên nước dưới đất

Như đã mô tả ở trên, Hà Nội có một nền địa chất phức tạp nên đi cùng với nó là một hệ thống địa chất thủy văn cũng đa dạng và phức tạp, có tính liên thông với toàn bộ cấu trúc chứa nước dưới đất (hay nước ngầm) của đồng bằng Bắc Bộ nói chung và có nguồn bổ cập trực tiếp từ hệ thống thủy văn trên mặt, trong đó các hệ thống sông Đà, sông Hồng, sông Đuống có vai trò đặc biệt quan trọng.

Nước dưới đất trong khu vực Hà Nội tồn tại và được tàng trữ trong nhiều môi trường địa chất khác nhau (Nguyễn Ngọc Đại, 1996). Trong các tầng địa chất cố kết và rắn chắc, nước dưới đất tồn tại trong các đới dập vỡ, lỗ hổng được hình thành bởi sự biến dạng của đá do các vận động kiến tạo.

Trong trường hợp này, các hệ thống đứt gãy trẻ hoặc hoạt động tạo thành các đới chứa nước tự nhiên, đồng thời tạo ra sự kết nối và liên thông với hệ thống thủy văn trên mặt để bổ cập nguồn nước cho các bồn chứa ngầm. Loại hình chứa nước ngầm quan trọng nhất là các tầng trầm tích hạt thô bở rời tuổi Đệ Tứ bao phủ toàn bộ diện tích đồng bằng của Hà Nội, tạo ra nhiều tầng chứa nước khác nhau và ngăn cách nhau bởi các tầng cách nước.

Tuy nhiên, do lịch sử phát triển địa chất với các chu kỳ biển tiến và biển thoái khác nhau mà các thành tạo trầm tích trẻ này được lắng đọng trong các môi trường biển hoặc lục địa, và đi cùng là sự hình thành các tầng chứa nước mặn, ngọt ở các độ sâu và vị trí khác nhau. Chỉ có một số tầng trầm tích chứa nước ngọt trong đó tầng chứa nước Pleistocen được khai thác rộng rãi, cung cấp hàng triệu m3/ngày cho thành phố, đặc biệt là ở các vùng ngoại thành và nông thôn.

Tài nguyên nước trong các tầng chứa này được hình thành bởi nguồn tích chứa trong nội tầng chứa nước và được bổ cập bởi nguồn nước trên mặt, trong đó hệ thống sông Đà, sông Hồng, sông Đuống, tạo ra trữ lượng lớn và tương đối ổn định khi khai thác trong quy phạm cho phép. Do nước dưới đất có tầm quan trọng trong việc cấp nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp nên nhu cầu khai thác nước ngầm ở Thủ đô ngày càng cao, đặc biệt là trong bối cảnh quá trình đô thị hóa và phát triển ở vùng ngoại thành diễn ra mạnh mẽ.

Việc khai thác nước ngầm tự phát, không kiểm soát đã dẫn đến hàng loạt bất cập, trong đó việc không kịp bổ cập và hồi phục trữ lượng nước dưới đất không chỉ làm hạ thấp mực nước ngầm mà còn là nguyên nhân quan trọng gây sụt lún cho nhiều vùng, đặc biệt là khu vực nội thành như: Hạ Đình, Ngọc Hà, Mai Dịch...

Bên cạnh đó, việc quy hoạch xây dựng với mật độ dày đặc các công trình với móng có độ sâu lớn dọc bờ sông chính sẽ tạo ra các tường chắn ngăn cản việc bổ cập nước ngầm cho các khu vực ở xa nguồn bổ cập. Việc khoan giếng tự phát quy mô lớn mà không có các biện pháp bảo vệ môi trường nghiêm ngặt, việc đào khoét, khoan móng công trình độ sâu lớn, xây dựng các công trình xuống sâu còn dẫn tới việc phá vỡ tầng chắn nước, tạo điều kiện cho sự thẩm thấu của nước trên mặt bị ô nhiễm, nước thải sinh hoạt và công nghiệp vào các tầng nước dưới đất, hoặc nối thông các tầng chứa nước ngọt và mặn với nhau. Hậu quả là sự ô nhiễm các tầng nước ngầm và sự lan rộng của chúng theo thời gian và không gian là không thể kiểm soát.

Vì vậy, trong công tác quy hoạch đô thị và xây dựng thành phố cần chú ý đến đánh giá chính xác đặc điểm địa chất thủy văn và vai trò của chúng đối với sự phát triển tương lai của Hà Nội. Việc xác quy luật phân bố các tầng chứa nước, đánh giá tác động của việc xây dựng công trình, khu công nghiệp, không gian nổi và không gian ngầm trong mối quan hệ với việc bảo vệ tài nguyên nước dưới đất… là tiền đề quan trọng cho giải pháp quy hoạch hợp lý không gian phát triển đô thị, chống sụt lún, chống ô nhiễm môi trường ngầm và bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững, trong đó có không gian nước ngầm.

c) Về di sản địa chất

Hà Nội thường được biết đến như là một trung tâm với nhiều giá trị văn hóa lịch sử của cả nước. Tuy nhiên, có một nguồn giá trị khác có ý nghĩa to lớn là các di sản địa chất, gắn liền với các thắng cảnh, các di tích lịch sử và văn hóa nhưng chưa được xem xét, nhận dạng và đánh giá tiềm năng.

Các khu vực chùa Hương, núi Tản và Sóc Sơn, ngoài việc là địa điểm danh thắng, gắn liền với các truyền thuyết còn là những khu vực có đặc điểm địa chất, địa mạo và tự nhiên đặc biệt, có ý nghĩa khoa học, giáo dục và kinh tế - xã hội to lớn, có thể được coi là các di sản địa chất.

Khu vực chùa Hương là một phần của cấu tạo chất - địa mạo karst đặc trưng cho khu vực Tây Bắc Bộ, kéo dài từ Tràng An đến Tam Chúc và tiếp tục kéo dài qua Hà Nội, Hòa Bình và đến các tỉnh khác, trong đó chứa đựng nhiều dấu hiệu địa chất, địa mạo, lịch sử tiến hóa địa chất và loài người, di tích lịch sử và văn hóa đặc biệt.

Khu vực Tràng An với đặc điểm địa chất, địa mạo và lịch sử tương tự đã được UNESCO công nhận là là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, là di sản hỗn hợp đầu tiên và duy nhất của khu vực Đông Nam Á. Trong khu vực chùa Hương và vùng lân cận, động Hương Tích là một hang Karst, từ thế kỷ 17 đã được phong là “Nam thiên đệ nhất động”.

Các hệ thống núi đá vôi trong và ngoài khu vực này hoàn toàn có thể ẩn chứa các hệ thống hang động khác có thể có giá trị như Hương Tích nhưng chưa được điều tra, khám phá, hoặc đánh giá giá trị. Như vậy, khu vực Hương Tích và vùng karst lân cận hoàn toàn có thể là một di sản địa chất giá trị, cần được điều tra.

Vùng Ba Vì - Sơn Tây nằm ở phía Tây Bắc của trung tâm Hà Nội, có địa thế đặc biệt, nổi cao và bao quanh bởi cả dòng sông Hồng và sông Đà với cảnh sắc và đặc điểm địa chất đặc biệt, không chỉ là một địa chỉ tâm linh, trong đó cái tên núi Tản - sông Đà gắn liền với truyền thuyết dân gian mà còn có ý nghĩa địa chất, khoa học và giáo dục cực kỳ quan trọng.

Tại đây, lộ ra các thành tạo dịa chất có tuổi tới hơn 2 tỷ năm; núi Ba Vì được cấu tạo bởi các loại đá magma xâm nhập và phun trào; nhiều nghiên cứu coi đây là di sót của một hệ thống núi lửa cổ, từng hoạt động cách đây hàng trăm triệu năm.

Tại các khu vực gần đỉnh các ngọn núi tồn tại các di sót của lớp cuội lòng sông, khẳng định đáy sông Đà hoặc sông Hồng cổ từng chảy qua đây và đã bị nâng cao hàng nghìn mét mà không ở đâu khác có thể quan sát được. Những bằng chứng về một dòng sông cổ này còn kết nối với truyền thuyết về Sơn Tinh - Thủy Tinh trong kho tàng văn hóa của người Việt. Như vậy, trong tổng thể đặc điểm địa chất, địa mạo và di sản văn hóa, tâm linh, khu vực Ba Vì và các thành tố địa chất của nơi này là một danh thắng và di sản địa chất nổi bật.

Khu vực núi Sóc Sơn là phần kéo dài của dãy Tam Đảo cũng có lịch sử địa chất lâu dài và gắn liền với truyền thuyết về Thánh Gióng. Đây cũng là nơi cần xem xét các giá trị di sản cần được bảo vệ và phát huy giá trị.

Tuy nhiên, mặc dù tất cả các yếu tố địa chất, địa mạo và mối quan hệ của chúng với các di sản lịch sử và văn hóa khác với tầm quan trọng đặc biệt của chúng, lại chưa được đề cập, chưa được điều tra, đánh giá hoặc xếp loại như là các di sản địa chất để có thể phát huy giá trị, có các giải pháp quy hoạch, khai thác và bảo vệ hợp lý trong các chương trình quy hoạch và phát triển của thành phố hiện nay.

d) Về tài nguyên sinh thái

Ngoài các tiềm năng di sản địa chất nói trên, vành đai phía Tây và phía Bắc của thành phố còn có ý nghĩa quan trọng về mặt sinh thái, đặc biệt là trong bối cảnh sự đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, với các khu đô thị đang ngày càng mở rộng ra biên và với kế hoạch phát triển các đô thị vệ tinh. Mật độ dân số càng cao, các phương tiện giao thông càng lớn và hệ thống hạ tầng càng phát triển tạo ra nguồn thoát thải khí carbon và các độc tố khác càng cao, đe dọa trực tiếp đến con người.

Sự bê tông hóa, mật độ giao thông, nhà và công trình nhân sinh càng dày đặc dẫn tới sự gia tăng của nhiệt độ trong khu vực đô thị. Bên cạnh đó, cư dân trong các khu đô thị bị nén vào các không gian sống và làm việc chật hẹp, ngột ngạt đòi hỏi phải có sự cân bằng với tự nhiên.

Do vậy, một vành đai xanh của thành phố đủ lớn để tạo ra sự cân bằng và trung hòa độc tố, nơi nghỉ ngơi, thư giãn của cư dân nội thành là đòi hỏi tất yếu đối với mục tiêu phát triển xanh, bền vững của thành phố.

2.3. Các tai biến địa chất tiềm năng

Bên cạnh những giá trị to lớn và lợi thế về tài nguyên địa chất, Thủ đô Hà Nội còn phải đối mặt với nhiều rủi ro do tai biến địa chất, cả dưới dạng các tai biến tự nhiên và các tác động nhân sinh. Tai biến địa chất là một trong những nguyên nhân cơ bản gây thiệt hại về người và của ở những quy mô khác nhau, từ những điểm cục bộ đến phạm vi cả một khu vực rộng lớn.

Tai biến địa chất thường có các nguyên nhân phát sinh từ bên trong Trái đất nhưng được cộng hưởng và trở nên đặc biệt nguy hiểm bởi các tác động của yếu tố khí hậu thủy văn và các tác động nhân sinh.

Vùng Thủ đô với nền địa chất phức tạp như mô tả trên đây, cộng với các tác động ngày càng cực đoan của thời tiết do biến đổi khí hậu, và đặc biệt là sự mở rộng nhanh chóng quy mô đô thị, chất thải của các công trình cao tầng với mật độ ngày càng cao, nhu cầu về khai thác nước ngầm, tài nguyên địa chất, thoát thải của chất thải ngày càng lớn thì tác động cộng hưởng của tai biến địa chất ngày càng nghiêm trọng và cần phải được đưa vào tính toán một cách cẩn thận trong các quy hoạch phân vùng và thiết kế đô thị.

Một số dạng tai biến tiềm năng liên quan đến các yếu tố địa chất nguyên sinh và nhân sinh cũng như tác động cộng hưởng của chúng có thể tóm tắt dưới đây.

a) Sụt đất

Đây là hiện tượng hạ thấp nền đất của một khu vực so với khu vực xung quanh, được gây ra bởi nhiều tác động tự nhiên và nhân sinh, trong đó các nguyên nhân tự nhiên bao gồm sự dịch chuyển của các khối đất đá tạo ra các khoảng trống bên trong lòng đất do các vận động kiến tạo, sự phát triển và mở rộng của các hang hốc trong các tầng đá bên dưới lòng đất đi cùng là sự hạ thấp mực nước ngầm dẫn tới tạo ra các khoảng trống và mất cân bằng của nền đất bên trên dẫn tới sự sụp đổ, sự di chuyển của nước ngầm gây ra sự xói ngầm, cát chảy, sự phân hủy của các vật chất trong các tầng trầm tích và di chuyển vật chất trong các lớp đá, lớp vỏ phong hóa và thổ nhưỡng tạo ra các khoảng trống bên trong các tầng đất đá.

Sự chất tải của công trình xây dựng và các tác động nhân sinh khác dẫn tới sự ép nén và giảm thể tích của tầng móng bở rời nằm dưới. Việc khai thác nước ngầm dẫn tới hạ thấp mực thủy tĩnh và để lại các lỗ rỗng dẫn tới sự sắp xếp lại các vật chất làm giảm thể tích của tầng móng, sự thiếu hụt bổ cập nước ngầm do tác động của khí hậu hoặc nhân sinh (xây dựng tạo ra các đập chắn ngầm, khai thác nước ngầm), thi công các công trình ngầm mà không khảo sát và tính toán đến sức chịu tải của tầng móng, và rất nhiều nguyên nhân tự nhiên và nhân sinh khác.

Tác động của sụt lún là rất to lớn đối với sự phát triển của đô thị, đặc biệt là trong việc xây dựng các công trình nổi và không gian ngầm với quy mô và mật độ ngày càng cao hơn, khai thác tài nguyên, nước ngầm với quy mô ngày càng lớn. Ngoài việc phá vỡ kết cấu công trình trên mặt và công trình ngầm, sụt lún còn có thể gây phá hủy đê điều, cầu cống, các công trình giao thông… và khi xảy ra thường để lại hậu quả nghiêm trọng. Tác động sụt đất xảy ra mạnh hơn ở những khu vực đô thị mật độ cao, nằm trên nền địa chất công trình phức tạp và yếu, trong đó có Hà Nội.

Như đã nói trên, nền địa chất Hà Nội có thành phần phức tạp, phân dị mạnh mẽ, trong đó có các tầng trầm tích carbonat có độ rỗng, hang hốc lớn. Trong bối cảnh vận động kiến tạo và dịch chuyển địa chất đang diễn ra không ngừng, với một tầng phủ yếu biến đổi mạnh mẽ là những tiền đề tự nhiên phát sinh sụt đất có nguy cơ cao. Những yếu tố đó kết hợp với các hoạt động đô thị hóa, khai thác tài nguyên và nước ngầm, xây dựng công trình đang diễn ra với quy mô ngày càng lớn.

Vì vậy, muốn quản lý, xử lý chặt chẽ hiện tượng sụt lún đất thì trong quy hoạch phải tính tới và dự báo được các tác động của sụt lún thông qua các hiểu biết chi tiết về nền địa chất và mối quan hệ của chúng với các yếu tố tự nhiên và nhân sinh khác.

b) Trượt lở

Trượt lở là hiện tượng dịch chuyển của đất đá trên sườn dốc, mái dốc do sự mất cân bằng và ổn định trong các tầng đất đá gây ra bởi sự tác động cộng hưởng của nhiều nguyên nhân và thành tố khác nhau, trong đó sự gia tăng tải trọng ở phần trên, sự mất ổn định của chân đế, mất ổn định về kết cấu và đặc tính cơ lý ở bên trong khối đất đá, sự rung động của nền đất… là những nguyên nhân chính (ch., Sidle and Ochiai, 2006).

Trượt lở thường xảy ra theo nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm của khối đất đá, cấu tạo bên trong của chúng, độ dốc sườn và các tác động cộng hưởng thứ sinh tự khác, trong đó có rung động nền (do động đất tự nhiên hoặc nhân sinh), khí hậu và thời tiết, các tác động nhân sinh để tạo ra cơ chế phát sinh và dịch chuyển của khối trượt.

Các loại hình trượt lở thường gặp nhất bao gồm: trượt lở, sạt lở, sụt lở, lở đá, dòng lũ bùn đá. Chúng có thể xảy ra trong cả tầng đá gốc rắn chắc, trong các lớp vỏ phong hóa hoặc các tầng phủ bở rời, đặc biệt là các tầng đất yếu và dễ hóa lỏng. Mặc dù các loại hình trượt lở diễn biến khác nhau song đều có chung đặc tính là xảy ra nhiều ở các sườn dốc, dọc đường giao thông, hệ thống đê kè, đập chắn, các bờ mỏ khai thác khoáng sản, bờ sông hoặc các dòng chảy, các hố đào xây dựng công trình, khu vục đào khoét để xây dựng...

Các hoạt động tự nhiên hoặc nhân sinh này đều làm mất đi các yếu tố kháng trượt, phá vỡ sự cân bằng tự nhiên trong các khối đất đá dọc sườn dốc, tạo ra sự mất ổn định và phát sinh trượt, trong đó vật chất thường chuyển dịch bên trên một mặt hoặc một đới trượt. Đây là loại hình tai biến thường có phạm vi phát triển rộng rộng lớn, diễn biến từ rất chậm (đất trườn) tới rất nhanh (đổ lở, lũ quét) làm cho con người hoặc chủ quan, coi thường hoặc không kịp đối phó. Khối lượng và phạm vi dịch chuyển, tốc độ dịch chuyển cũng biến đổi khó lường, đặc biệt nguy hiểm cho các cụm dân cư ở vùng chân sườn hoặc hạ du.

Hiện tượng trượt lở có thể xảy ra cùng một thời gian trên phạm vi rộng, tạo nên một dạng tai biến khu vực với hậu quả nghiêm trọng như: gây mất ổn định và phá hủy công trình, vùi lấp người và tài sản, phá hoại môi trường sống, có thể dẫn tới những thảm họa lớn cho con người và xã hội.

Thủ đô Hà Nội với vành đai phía Tây, Tây Bắc và Bắc là khu vực đồi núi có cấu trúc nền địa chất phức tạp và đang biến động, trong điều kiện biến đổi khí hậu đang diễn ra, cộng hưởng với quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ là những tiền đề và tác nhân quan trọng gây ra trượt lở, có thể với quy mô lớn. Hiện tượng trượt lở đã xảy ra ở nhiều nơi, dưới nhiều hình thức và có nguy cơ ngày càng tăng cao (Vũ Cao Minh, 2020).

Việc xâm hại vào hệ sinh thái, phá hủy cân bằng tự nhiên và cân bằng sườn đang diễn ra với quy mô ngày càng lớn; việc khai thác nước ngầm, khai thác tài nguyên khoáng sản, cộng với sự dịch chuyển của các khu đô thị về phía ngoại thành, xây dựng các đô thị vệ tinh, các khu dân cư mới, xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi và hạ tầng cơ sở khác ở những khu vực có tiềm năng tai biến trượt lở đang thúc đẩy nguy cơ tai biến trượt lở. Đây chính là những vấn đề cần được tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng trong các quy hoạch và kế hoạch phát triển Thủ đô sắp tới.

c) Dao động nền và biến dạng nền địa chất do vận động kiến tạo hoạt động và biến đổi khí hậu

Dao động nền địa chất hiện đại thường được phát sinh từ dịch chuyển khối ở dưới sâu do các vận động kiến tạo của vỏ Trái đất tạo nên, trong đó động đất là một hậu quả điển hình nhất, ngoài các vận động kiến tạo khác như: sự dịch chuyển và biến dạng dọc theo các đới đứt gãy, hoặc nâng, hạ kiến tạo.

- Động đất: Động đất là sự rung lắc của nền đất, thường được phát sinh tức thời do giải phóng lực ma sát tích lũy dọc theo các mặt trượt nằm giữa các khối địa chất có sự dịch chuyển theo các hướng ngược nhau, thường gọi là các đứt gãy (ch., Nur, 2018). Do động đất tạo ra các loại sóng khác nhau, có phương, biên độ dịch chuyển và độ trễ khác nhau nên tạo ra các dao động nền phức tạp với quy mô khác nhau và tương ứng là mức độ phá hủy khác nhau.

Động đất thường gây ra rung lắc nền đất, hóa lỏng các tầng đất yếu bở rời, kích thích sụt lún nền đất, trượt lở dọc các sườn dốc, góp phần tạo ra các tai biến địa chất. Tùy thuộc vào quy mô và cường độ động đất mà mức độ thiệt hại của động đất có thể vô cùng lớn. Các công trình xây dựng quy mô lớn như: đập, nhà cao tầng, công trình ngầm, đường giao thông, đặc biệt là các công trình không có thiết kế kháng chấn và nằm trên nền đất yếu thường bị tác động mạnh nhất và dễ sập đổ nhất. Như vậy, các khu đô thị với mật độ nhà cao tầng càng cao, dân số càng lớn thì nguy cơ thiệt hại do động đất càng lớn.

Như trên đã đề cập, nền địa chất vùng Hà Nội nằm trên đới cấu trúc phức tạp, trong đó vỏ Trái đất bị phân cắt, dập vỡ và dịch chuyển mạnh bởi các đứt gãy lớn, có quy mô khu vực như đứt gãy sông Hồng, sông Chảy với chiều dài hàng nghìn kilômét và ở độ sâu hàng chục kilômét, nhiều đứt gãy nhỏ là phân nhánh của chúng, tạo nên địa hào Hà Nội và các cấu trúc dạng tuyến ở Tây Bắc và Đông Bắc Bộ. Các hệ thống này hiện vẫn đang hoạt động, gây biến dạng địa hình, tạo nên các vùng nâng và sụt hạ kiến tạo khu vực và địa phương cũng như tạo ra các trận động đất tự nhiên.

Bên cạnh đó, vùng Hà Nội còn bị tác động của dao động nền gây ra các trận động đất ở Hà Nội và các tỉnh lân cận như: Bắc Giang, Vĩnh Phúc (Nguyễn Đức Đại, 1996) và các tỉnh khác ở miền Bắc Việt Nam, thậm chí ở các khu vực lân cận lãnh thổ Việt Nam (Bùi Công Quế, 2010).

Theo những kết quả nghiên cứu hiện nay, các hệ thống đứt gãy sông Hồng, sông Chảy là các cấu trúc đang hoạt động kiến tạo tích cực và có khả năng sinh chấn với các trận động đất có độ lớn tới 5,5 độ richter. Trong phân vùng tai biến động đất lãnh thổ Việt Nam thì vùng Hà Nội nằm trong đới có nguy cơ phát sinh động đất cao (Bùi Công Quế, 2010).

- Các dịch chuyển kiến tạo hoạt động:

Bên cạnh các rung động do động đất, khu vực Hà Nội cũng là nơi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các vận động kiến tạo, bao gồm các dịch chuyển ngang và vận động thăng trầm. Dịch chuyển ngang là hậu quả của sự biến dạng song song mặt đất, thường diễn ra dọc các hệ thống đứt gãy và khe nứt lớn đang hoạt động rất phổ biến trong nền địa chất khu vực thành phố và lân cận (Nguyễn Đức Đại, 1996). Các biến dạng này có tốc độ chậm nhưng có thể gây ra các biến dạng dài hạn đối với địa mạo, hệ thống thủy văn, góp phần thúc đẩy hoặc gây ra hàng loạt tai biến địa chất (Trần Thanh Hải, 2017).

Các vận động kiến tạo trẻ và hoạt động làm thay đổi hình thái, hướng dòng chảy, dịch chuyển lòng sông, biến dạng và phá hủy hệ thống đê điều, đường giao thông, đập, các công trình xây dựng, gây ra sụt lún hoặc nâng cao ở các vùng tiếp giáp các hệ thống đứt gãy tùy thuộc bản chất dịch chuyển kiến tạo. Sự nâng kiến tạo dẫn tới sự hạ thấp mực cơ sở, thúc đẩy quá trình xâm thực dọc, đào khoét các rãnh xói, nắn thẳng dòng chảy và làm tăng tốc độ bào mòn của sườn dốc, gia tăng độ dốc của sườn và gây ra trượt lở dọc vách của các thung lũng ở vùng đồi núi.

Ngược lại, hiện tượng sụt lún lại dẫn tới sự nâng cao mực cơ sở, thúc đẩy xâm thực ngang của dòng chảy, phá hủy bờ sông và làm cho các dòng sông uốn khúc, tạo thành các khu vực tụ thủy và các đầm lầy, đồng thời gây ngập lụt trong các vùng sụt. Nếu tích hợp sụt lún kiến tạo với sụt lún cục bộ liên quan tới các yếu tố địa kỹ thuật như sụt lún đất do khai thác nước ngầm và các nguyên nhân khác đề cập ở phần trên thì tổng độ sụt lún còn cao hơn nữa.

- Sụt lún tương đối do nước biển dâng và các tác nhân cộng hưởng khác:

Bên cạnh sự sụt lún địa phương kể trên, còn cần phải tính tới sự sụt lún tương đối theo mức độ dâng cao mực nước biển do biến đổi khí hậu đang ngày càng hiện hữu và đã được đưa vào dự báo trong các kịch bản nước biển dâng cho Việt Nam.

Theo công bố của Bộ TN&MT (2020), mực nước biển dâng theo các kịch bản biến đổi khí hậu trung bình đến cuối thế kỷ 21 là khoảng 55 cm (tối thiểu và 34 cm và tối đa là 101 cm) cho khu vực miền Bắc. Điều này đồng nghĩa với sự dâng cao của mực cơ sở khu vực trung bình khoảng 55 cm hay sự hạ thấp nền đất tương ứng so với mực cơ sở.

Với mức nước biển dâng này, hầu hết các tỉnh ven biển Bắc Bộ sẽ bị ảnh hưởng, trong đó có tỉnh có phần lớn diện tích nằm dưới mực nước biển và phần diện tích còn lại sẽ thành vùng đất ngập nước do hạ thấp nền đất tương đối so với mực cơ sở. Biển lấn sâu vào đất liền sẽ trực tiếp tác động lớn tới toàn bộ hệ thống tự nhiên và xã hội của Thủ đô Hà Nội.

Như vậy, tác động cộng hưởng của nước biển dâng dài hạn do biến đổi khí hậu với sụt lún cục bộ nói trên sẽ làm cho khu vực càng bị hạ thấp tương đối so với mực cơ sở, tạo ra nguy cơ ngập lụt cao hơn cho nhiều khu vực của thành phố và có thể toàn bộ thành phố trong tương lai.

Do đó, không thể không tính đến các dao động nền, đặc biệt là các yếu tố liên quan động đất và các biến dạng kiến tạo liên quan, trong đó có tính đến sụt lún kiến tạo và tích hợp với các kịch bản mực nước biển dâng, là các yếu tố dài hạn tác động tới mực cơ sở của Thủ đô, trong các quy hoạch và đồ án xây dựng Thủ đô và các khu đô thị.

3. Kếtluận và kiến nghị

Những thông tin đề cập ở phần trên cho thấy rằng, để có thể đưa ra chính sách, lập quy hoạch và và kế hoạch phat triển bền vững, ứng phó linh hoạt trước các rủi ro do các tai biến trong quá trình phát triển thì một sự am hiểu thấu đáo về nền địa chất, tài nguyên và tai biến địa chất thông qua việc tổng hợp, phân tích, điều tra chi tiết các bằng chứng khoa học, cung cấp thông tin tin cậy cho các nhà hoạch định chính sách của Thủ đô và cả các địa phương lân cận là hết sức cần thiết.

Để có thể tạo ra một cơ sở dữ liệu nền chi tiết, có cơ sở khoa học và có ý nghĩa thực tiễn bên cạnh các nguồn dữ liệu khác cần thiết đối với việc lập quy hoạch và phát triển Thủ đô Hà Nội, cần tập trung vào một số vấn đề sau.

1) Điều tra, khảo sát và tổng hợp đầy đủ cơ sở dữ liệu về nền địa chất để tạo thành một bộ cơ sở dữ liệu lớn, số hóa và tổng hợp, ba chiều về nền địa chất dưới sâu nhằm cung cấp một dữ liệu địa chất một cách thuận lợi, dễ dàng cho các bên liên quan, nhằm nâng cao tính hiệu quả và thực tế cho công tác quy hoạch và lập kế hoạch phát triển có tính tới việc khai thác hợp lý và bảo vệ các nguồn tài nguyên, di sản địa chất, phòng tránh và giảm thiểu tác động của tai biến địa chất.

2) Trên cơ sở điều tra địa chất và tài nguyên địa chất gồm: khoáng sản, tài nguyên nước dưới đất, di sản địa chất, tài nguyên sinh thái, xác định được giá trị và nhu cầu tài nguyên và mối quan hệ của chúng với các giá trị văn hóa, lịch sử, nhu cầu xã hội hiện tại và tương lai, cũng như các yêu cầu và tiêu chí khác của phát triển bền vững để phân vùng dự báo tài nguyên, quy hoạch bảo vệ và phát huy giá trị tài nguyên phù hợp với mục tiêu phát triển thành phố để đưa vào các mô hình quy hoạch phù hợp.

3) Xây dựng được sơ đồ dự báo mức độ tổn thương tự nhiên và cảnh báo rủi ro cho khu vực Thủ đô để làm cơ sở xây dựng các kịch bản về tai biến tự nhiên và nhân sinh trong các điều kiện khác nhau, mức độ chịu tải của nền đất để quy hoạch và xây dựng các công trình phù hợp trên đất, quy mô của khu đô thị, khai thác, bảo vệ tài nguyên hợp lý và có khả năng chịu tải, thích ứng và đối phó kịp thời với các rủi ro của quá trình đô thị hóa và phát triển Thủ đô Hà Nội.

Xem xét, tích hơp các yếu tố tác động của kịch bản nước biển dâng trong 50 năm và 100 năm tới để tính toán các điều kiện nền cho việc quy hoạch phát triển, đặc biệt là độ cao mực cơ sở cho thành phố và tính toán các giải pháp chóng ngập úng và thoát nước cho thành phố trong tương lai thích ứng với các tác động tổng hợp của sụt lún địa phương và sự dâng cao mực nước biển toàn lãnh thổ.

4) Dựa trên tất cả các thông tin thu được ở trên, dựa trên nguyên tắc tích hợp thông tin đa ngành, đa dữ liệu, trên quan điểm một môi trường đô thị tổng thể cũng như sử dụng toàn bộ hiểu biết về mối quan hệ tổng hợp các tác động của nền địa chất, địa chất thủy văn, của các yếu tố khí hậu - thủy văn, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, biến đổi về sử dụng đất, dịch chuyển xã hội và dân số, cơ cấu kinh tế xã hội... để đánh giá tổng hợp và dự báo chính xác các áp lực về môi trường địa chất lên thành phố, nhận dạng các vấn đề địa kỹ thuật cần ưu tiên và đề xuất các giải pháp tổng hợp để giảm thiểu các tai biến địa chất, khoanh vùng tai biến, dự báo mức độ tổn thương, phân vùng mức độ rủi ro… nhằm tạo ra cơ sở dữ liệu tin cậy cho việc lập quy hoạch tính tới khả năng phục hồi và bền vững.

* Tít do Tòa soạn đặt

Tài liệu tham khảo:

1. Benczur, P., Giovannini, E., Manca, A. (2017), Building a scientific narrative towards a more resilient EU society, Joint Research Centre, European Commission, Publications Office, EUR 28548 EN.

2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020), Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam. Nxb. Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam.

3. Bùi Công Quế (chủ biên, 2010), Nguy hiểm động đất và sóng thần ở vùng ven biển Việt Nam. Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.

4. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (2005), Tài nguyên khoáng sản tỉnh Hà Tây, Lưu trữ Cục Địa chất, Hà Nôi.

5. ESCAP (2002), Urban Geology and the Impact on Our Lives. The Atlas of Urban Geology series, United Nations.

6. Huggenberger, P. and Epting, J. (2011), Urban Geology: Process-Oriented Concepts for Adaptive and Integrated Resource Management, Springer. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Định hướng Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

7. Manca, A., Benczur, P., and Giovannini, E. (2017), Part 1, A conceptual framework, in Benczur, P., Giovannini, E., Manca, (eds): Building a scientific narrative towards a more resilient EU society, Joint Research Centre, European Commission, Publications Office, doi:10.2760/635528.

8. Nguyễn Đức Đại (chủ biên) (1996), Báo cáo điều tra địa chất đô thị Thành phố Hà Nội, Lưu trữ Cục Địa chất, Hà Nội.

9. Nur, T. (editor) (2018), Seismology, Earthquake Engineering and Structural Engineering. Arcler Press.

10. Sidle, R. C. and Ochiai. H. (2006), Landslides: Processes, Prediction, and Land Use, Water Resources Monograph Series, American Geophysical Union, Willey.

11. Trần Thanh Hải (2017), Kiến tạo hoạt động vùng ven biển miền Trung Việt Nam và tác động tới tai biến địa chất, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

12. Trần Văn Trị và Vũ Khúc (chủ biên, 2009), Địa chất và tài nguyên Việt Nam. Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.

13. UN (2015), Transforming our World: The 2030 Agenda for Sustainable Development. A/ RES/70/1, the United Nations.

14. Vũ Cao Minh (chủ biên, 2020), Nghiên cứu thiên tai trượt lở ở Việt Nam, Chương trình phát triển Liên hợp quốc, Việt Nam; Dự án UNDP VIE/97/002- Disaster Management Unit, Hà Nội.

Link nội dung: https://ohanapreschool.edu.vn/cac-lop-da-bi-dut-gay-trong-dieu-kien-van-dong-kien-tao-theo-phuong-a59659.html