Thế hệ máy tính (tiếng Anh Computer Generations) là lớp các máy tính điện tử có chung một số đặc điểm công nghệ quan trọng nhất.
Hàng trăm loại máy tính điện tử khác nhau đã từng được thiết kế và chế tạo trong quá trình tiến hoá của chúng; hầu hết đã bị lãng quên, chỉ một số rất ít còn có ảnh hưởng đáng kể đến những tư tưởng hiện đại trong lĩnh vực kiến trúc máy tính. Các nhà nghiên cứu thường dựa trên đặc điểm công nghệ chế tạo phần cứng để phân lớp các thế hệ máy tính điện tử khác nhau, họ khá thống nhất trong việc phân lớp ba thế hệ đầu tiên. Tuy nhiên, từ thế hệ thứ tư, do sự tiến bộ hết sức nhanh chóng của công nghệ, việc phân lớp các thế hệ không hoàn toàn thống nhất. Sau đây là một số cột mốc chính trong quá trình phát triển của máy tính điện tử.
Chiến tranh thế giới thứ hai đã kích thích sự ra đời của máy tính điện tử với mục tiêu ban đầu là để giải mã các bức điện được mã hóa bằng máy mã hóa ENIGMA của Đức. Việc giải mã đòi hỏi khối lượng tính toán khổng lồ, yêu cầu phải có máy tính điện tử.
Một số máy tính điện tử nổi tiếng thuộc thế hệ thứ nhất:
Máy Colosus: được nhà toán học người Anh là Alan Turing lãnh đạo việc thiết kế và chế tạo, được đưa vào sử dụng năm 1943 và được chính phủ Anh giữ bí mật hoàn toàn trong 30 năm liền.
Máy ENIAC (Electronic Numerical Integrator And Calculator): được giáo sư người Mỹ là John Mauchley và học trò của ông là J. Presper Eckert thiết kế và chế tạo, đưa vào sử dụng năm 1946. Các tác giả của máy ENIAC đã tổ chức một trường hè để trình bày về công trình của mình trước các nhà khoa học đồng nghiệp; chính trường hè này đã gây ra sự bùng nổ về nghiên cứu chế tạo máy tính điện tử cỡ lớn. Một trong những người bị dự án ENIAC lôi cuốn là John von Neumann, thiết kế cơ sở của ông được gọi là máy von Neumann, đó là chiếc máy tính điện tử đầu tiên có chương trình được lưu trữ trong bộ nhớ, cho đến nay vẫn là cơ sở cho hầu hết các máy tính điện tử số [xt. Kiến trúc Neumann].
Transistor được sáng chế ra ở phòng thí nghiệm Bell năm 1948; những người sáng chế ra transistor đã được tặng giải thưởng Nobel về vật lý năm 1956. So với đèn điện tử, transistor có chức năng tương tự, tuy nhiên, transistor có ưu điểm rất lớn là tiêu thụ năng lượng ít hơn, tuổi thọ và độ tin cậy cao hơn và kích thước nhỏ hơn. Vì vậy, người ta đã tập trung nghiên cứu sử dụng transistor thay thế cho đèn điện tử trong các máy tính điện tử đã có và thiết kế các máy tính mới hoàn toàn sử dụng transitor. Trong khoảng thời gian mười năm sau khi transistor ra đời, một cuộc cách mạng trong lĩnh vực máy tính điện tử đã xảy ra; cho đến khoảng cuối những năm 1950 các máy tính dùng đèn điện tử đã trở nên lỗi thời.
Một số máy tính điện tử sử dụng transitor nổi tiếng:
Việc phát minh ra mạch tích hợp (cg. là mạch vi điện tử - IC) cho phép có thể đặt hàng chục transistor trong một vỏ/chip, nhờ đó người ta có thể chế tạo các máy tính nhỏ hơn, nhanh hơn và rẻ hơn các máy tính dùng transistor ra đời trước nó.
Một số máy tính điện tử nổi tiếng thuộc thế hệ thứ ba:
== Thế hệ thứ tư: Máy tính dùng mạch tích hợp cỡ lớn - VLSI (1980 -)
Vào khoảng năm 1980, công nghệ vi điện tử đã có thể chế tạo các mạch tổ hợp ở mức độ rất cao - VLSI (Very Large Scale Integrator), trong một chip có thể có hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu transistor. Nhờ việc sử dụng VLSI mà máy tính ngày càng nhỏ hơn, chạy nhanh hơn và rẻ hơn, đến mức trở nên “vừa túi” nhiều người và kỷ nguyên máy tính cá nhân bắt đầu.
Dựa trên kích thước vật lý, hiệu suất và lĩnh vực ứng dụng, người ta chia máy tính điện tử một cách tương đối làm 5 loại chính sau đây (theo cách phân chia này máy tính cá nhân chủ yếu thuộc thế hệ thứ tư):
Năm 1981 chính phủ Nhật loan báo kế hoạch chi 500 triệu đô-la hỗ trợ các công ty phát triển máy tính điện tử thế hệ thứ năm dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) và sự nhảy mức lượng tử. Sau một thời gian được bàn luận nhiều trên các phương tiện truyền thông, dự án máy tính điện tử thế hệ 5 đã bị bỏ rơi trong im lặng. Tuy nhiên, có những máy tính được gọi là thuộc thế hệ thứ 5 đã ra đời theo một cách không ngờ: đó chính là các máy tính thu nhỏ, có khả năng kết nối mạng mạnh mẽ và có giao diện thuận lợi cho người dùng.
Một số máy tính điện tử điển hình thuộc thế hệ thứ năm:
Sự ra đời của PDA và điện thoại thông minh chưa phải là một cuộc cách mạng thật sự, cuộc “cách mạng” thật sự là sự ra đời của các máy tính không nhìn thấy được, chúng được nhúng trong các trang thiết bị, đồng hồ, thẻ ngân hàng và vô số các thiết bị khác nhau.
Thế hệ thứ năm của máy tính điện tử mới đang ở trong giai đoạn đầu của sự phát triển. Người ta cho rằng các máy tính điện tử thuộc thế hệ này phải có các đặc điểm nổi bật so với các thế hệ trước, đó là sự kết hợp của các VLSI với các kỹ thuật tính toán, bao gồm trí tuệ nhân tạo và xử lý phân tán.
1. A. S. Tannenbaum, Structured Computer Organization, 6th Edition, Pearson, 2013. ISBN 10: 0-13-291652-5, ISBN 13: 978-0-13-291652-3. 2. William Stallings, Computer Organization and Architecture: Design forPerformance, 9th Edition, Pearson, 2013. ISBN 10: 0-13-293633-X, ISBN 13: 978-0-13-293633-0. 3. Microsoft Computer Dictionary, Fifth Edition, Microsoft Press, 2002. ISBN 0-7356-1495-4.
Link nội dung: https://ohanapreschool.edu.vn/may-tinh-dien-tu-da-phat-trien-qua-may-the-he-a41077.html